Tóm tắt: Trước tình trạng ngành sư phạm ngày càng khan hiếm nhân tài, giáo viên và cán bộ ngành giáo dục không hài lòng với thu nhập. Luật Giáo dục năm 2019 đặt trọng tâm về việc tăng lương cho giáo viên, phù hợp với vị trí làm việc, nhưng do ảnh hưởng của dịch covid – 19 nên vấn đề cải cách tiền lương bị kéo dài tới 1/7/2022. Một số ý kiến cho rằng, cần thiết tăng lương giáo viên ngang bằng với lương sĩ quan Quân đội, Công an. Thực chất, đây không phải là một vấn đề mới, Nhà nước đã nhiều lần nghiên cứu về đề xuất này, song việc triển khai là không hề đơn giản. Bài viết tập trung phân tích những lợi ích và khó khăn của đề án tăng lương cho giáo viên hiện nay, từ đó đề xuất một số phương án đề giải quyết khó khăn trước mắt, thúc đẩy cải thiện chất lượng đội ngũ giáo viên nói riêng và chất lượng ngành giáo dục nói chung.
Đặt vấn đề: Ngành sư phạm hiện nay đang gặp ngày càng nhiều khó khăn trong công tác tuyển sinh, những học sinh có học lực khá, giỏi đều hạn chế thi vào trường sư phạm, thậm chí tại kỳ thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng năm 2017, có những trường đào tạo sư phạm buộc phải chấp nhận tuyển sinh với mức điểm chuẩn là 9 điểm cho cả ba môn thi. “Danh sư xuất cao đồ” điều này ai cũng hiểu, bởi vậy tình trạng chất lượng đội ngũ giảng viên, giáo viên ở các trường ngày một đi xuống, đã thực sự trở thành vấn đề khiến cả xã hội phải quan tâm, lo lắng.
Tại sao hiện nay ngành sư phạm không đủ sức hấp dẫn đối với các bạn học sinh khi lựa chọn ngành học? Về vấn đề này, đa số các nhà quản lý và giới học giả đều cho rằng, nguyên nhân căn bản nhất chính là ở chế độ đãi ngộ của Nhà nước dành cho giáo viên hiện nay. Giảng viên, giáo viên là loại hình loại động trí óc, đòi hỏi người lao động không ngừng cố gắng và luôn phải chịu nhiều áp lực. Ngoài tám tiếng ở trường, họ còn phải soạn bài, chấm bài ở nhà, mặt khác giáo viên luôn cần không ngừng học hỏi, cập nhập kiến thức và phương pháp giảng dạy mới để phù hợp với sự phát triển không ngừng của xã hội. Hơn nữa, áp lực công việc của người giáo viên không chỉ đến từ lãnh đạo nhà trường mà còn đến từ học sinh và phụ huynh học sinh. Trong khi đó, sinh viên ngành sư phạm sau khi tốt nghiệp ra trường hầu hết lại gặp rất nhiều khó khăn khi tìm việc làm, áp lực về vấn đề thi tuyển công chức, mà đồng lương thì không đủ sống, đồng thời theo quy định hiện nay giáo viên không đươc tự ý tổ chức các lớp dạy thêm cho học trò. Chính những điều này đã khiến nhiều người ngại ngần khi lực chọn ngành sư phạm, dẫn đến công tác tuyển sinh kém hiệu quả, lâu dài sẽ ảnh hưởng tới chất lượng của đội ngũ giảng viên, giáo viên. Mặt khác, đồng lương không đủ trang trải cuộc sống đã khiến một số giảng viên, giáo viên không thể chuyên tâm vào giảng dạy, phải làm thêm nhiều nghề phụ để cải thiện thu nhập; Thậm chí làm nảy sinh một số biểu hiện tiêu cực trong ngành giáo dục, vi phạm nghiêm trọng đạo đức nghề giáo như: giáo viên đổi tiền lấy điểm, ép học sinh tham gia các lớp học thêm…
Trước tình hình đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khẩn trương tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất các giải pháp để sớm giải quyết vấn đề. Người thầy vốn được xã hội tôn vinh là người “tạo hình cho tương lai của đất nước”. Bởi vậy, thu hút nhân tài cho ngành sư phạm, từ đó cung cấp cho nền giáo dục nước nhà những người thầy có đủ đức đủ tài, có năng lực giảng dạy, trình độ chuyên môn đảm bảo cho công tác phát triển và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước là việc làm cấp bách và có ý nghĩa lâu dài. Đặc biệt trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang có ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các quốc gia trên thế giới, thì đòi hỏi về một lực lượng lao động có trình độ, năng động, sáng tạo, có năng lực phân tích và giải quyết vấn đề càng trở nên cấp bách, trở thành nhân tố căn bản quyết định đến sự phát triển của một đất nước.
Hiện nay, có nhiều ý kiến cho rằng, Nhà nước cần tiến hành tăng lương và các hình thức phụ cấp khác cho giáo viên và cán bộ ngành giáo dục, ít nhất phải ngang bằng với lương của cán bộ công tác trong ngành Công an, Quân đội. Có như vậy, những người có năng lực học tập tốt mới quyết định lựa chọn con đường sư phạm, đồng thời các giảng viên, giáo viên mới có thể an tâm công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy của mình. Tuy nhiên, không ít vấn đề nảy sinh khiến các nhà quản lý phải quan tâm suy xét như, nếu tăng lương thì Nhà nước dựa vào đâu để có thể chi trả lương cho giáo viên, tăng bao nhiêu cho phù hợp, tăng đồng thời cho tất cả các giáo viên hay nên có sự phân loại, sắp xếp thứ tự cho hợp lý…Đây cũng chính là những nội dung mà tác giả sẽ đề cập trong bài viết này.
Nội dung:
- Khó khăn khi tăng lương cho giáo viên, cán bộ ngành giáo dục
Như đã nói ở trên, lợi ích của việc tăng lương cho giáo viên và cán bộ ngành giáo dục là điều không cần bàn cãi. Đây không phải là vấn đề của riêng Việt Nam mà còn là vấn đề cấp thiết ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ví dụ, ở Nga trong vòng 8 năm từ 2004 đến 2011, lương giáo viên đã tăng thêm 4 lần; Ở Trung Quốc, từ năm 1990 đến năm 2008, lương giáo viên đã tăng gấp 14,2 lần. Vậy thì, tại sao ở nước ta đề án tăng lương cho giáo viên đã được đưa ra bàn thảo từ rất lâu nay mà tới nay vẫn chưa thể triển khai? Tác giả cho rằng, nguyên nhân chủ yếu vẫn nằm ở rào cản ngân sách eo hẹp của Nhà nước.
Thứ nhất, ai cũng biết, bộ máy biên chế của Nhà nước ta hiện nay rất cồng kềnh, ì ạch. Cả nước hơn 91 triệu dân thì có tới 11 triệu người hưởng lương từ ngân sách. Trong đó, đội ngũ công chức, viên chức ngành giáo dục đang chiếm hơn một nửa số lượng công viên chức cả nước; Ngành giáo dục chiếm tới 70% quỹ lương khối sự nghiệp, 52% biên chế sự nghiệp của cả nước. Nhà nước ta đã và đang không ngừng tăng cường đầu tư cho giáo dục, với 20% ngân sách nhà nước hàng năm chi cho giáo dục, trong đó 80% khoản đầu tư là dùng vào việc chi trả lương cho giáo viên và cán bộ trong ngành.
Thứ hai, bản thân cơ cấu nhân viên trong ngành giáo dục cũng đang thể hiện sự bất hợp lý. Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2017 cả nước có 1.246.188 nhà giáo, 272.318 nhân viên phục vụ, 154.000 cán bộ quản lý, tổng số người làm việc trong ngành Giáo dục là 1.672.506 người. Nhìn vào với tương quan tỷ lệ 154.000 cán bộ quản lý/1.246.188 giáo viên, có thể thấy số lượng cán bộ quản lý giáo dục ở nước ta là không hề nhỏ, cứ 8 giáo viên thì có tới một cán bộ quản lý. Điều này càng làm “phình to” bộ máy viên chức ngành giáo dục nói riêng và đội ngũ người hưởng lương từ ngân sách nói chung.
Thứ ba, nhiều giáo viên đã mong ngóng những thay đổi từ Bộ Giáo dục và Đào tạo theo Thông tư 01, 02, 03, 04/2021 quy định về từ việc bổ nhiệm, xếp lương viên chức giảng dạy trong các trường THPT, THCS, tiểu học và mầm non công lập có hiệu lực từ ngày 20/3/2021. Tuy nhiên, trên thực tế, từ đó tới nay, rất ít giáo viên các cấp được tăng lương do không đáp ứng các điều kiện để tăng lương theo quy định.
Cuối cùng, áp lực nợ công, lạm phát, áp lực kiểm soát giá năng lượng và giá tiêu dùng trong nước…khiến nhiều người quan ngại về lộ trình tăng lương cho giáo viên. Đặc biệt, sau hai năm dịch bệnh covid – 19 bùng phát, nền kinh tế đất nước vẫn đang trong giai đoạn phục hồi. Quốc hội cần cân nhắc về kế hoạch thu – chi ngân sách để có thể hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động khắc phục khó khăn, tái sản xuất kinh doanh sau đại dịch.
Để tăng lương cho giáo viên, cần một sự tính toán, cân đối thu chi dài hơi và toàn diện của các bộ ngành liên quan, trong đó chủ yếu nhất là Bộ Giáo dục, Bộ Tài chính, Bộ Lao động và Bộ Nội vụ. Khối ngành Công an, Quân đội có bảng lương riêng, nguồn ngân sách dùng để cân đối thu chi có tính chất đặc thù. Trong khi đó, lương sư phạm vẫn là lương hành chính, sự nghiệp, cần xem xét kỹ trong tương quan với các ngành thuộc khối công chức, viên chức khác. Do đó, đề án tăng lương cho giảng viên, giáo viên tuy đã được nhắc tới từ khá lâu nay, tuy nhiên việc thực hiện trên thực tế vẫn không hề dễ dàng.
- Một số đề xuất để tiến hành tăng lương cho giáo viên, cán bộ giáo dục
Tăng lương cho giáo viên là cần thiết, song tăng bao nhiêu, tăng như thế nào là vấn đề mà các nhà quản lý phải quan tâm nghiên cứu. Từ những phân tích về thực trạng và khó khăn ở trên, tác giả đề xuất một số phương án để có thể triển khai đề án tăng lương cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, như sau:
Một là, trước hết cần tiến hành rà soát lại đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý ngành giáo dục, tinh giản bộ máy quản lý. Trong bối cảnh chúng ta đang nhắc tới ngày càng nhiều về cơ chế “thị trường giáo dục”, nơi mà người học là đối tượng chi trả học phí và các chi phí liên quan khác, đồng thời thụ hưởng các lợi ích từ quá trình dạy học, thì vấn đề cốt lõi nhất hiện nay mà ngành giáo dục cần làm là nâng cao được chất lượng giáo dục. Cần thiết phải tiến hành rà soát, sàng lọc những cán bộ dư thừa, không đem lại hiệu quả lao động thực tế. Đặc biệt với những giảng viên, giáo viên không đáp ứng được yêu cầu giảng dạy, không đảm bảo năng lực chuyên môn cũng cần mạnh dạn tinh giản. Thay vào đó, Nhà nước phải có chế độ ưu đãi và thu hút nhân tài, đối với giáo viên giỏi cần tiến hành tăng mức đãi ngộ để đảm bảo thu nhập phù hợp với năng lực lao động.
Hai là, mạnh dạn tiến hành bỏ quy định về biên chế, khi đó trường hợp được tổ chức như một doanh nghiệp, những nhân viên nào làm việc có hiệu quả, có năng lực sẽ được hưởng mức lương xứng đáng, ngược lại những nhân viên nào hoạt động kém hiệu quả sẽ bị đào thảo. Điều này, không những sẽ làm giảm áp lực cho ngân sách nhà nước mà còn tăng tính cạnh tranh trong đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, buộc họ phải không ngừng cố gắng, phấn đấu để nâng cao năng lực giảng dạy, quản lý, đáp ứng yêu cầu công việc. Từ đó, góp phần cải thiện chất lượng giáo dục.
Ba là, mở rộng cơ chế tự chủ của các trường, cho phép các trường được chủ động trong công tác thu – chi. Khi đó, nhằm thu hút đông đảo người học để tăng nguồn thu, các trường sẽ không ngừng cải thiện, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, giáo viên. Để làm được điều này, nhà trường sẽ có các chính sách tăng cường đãi ngộ, thu hút nhân tài, đảm bảo cho giảng viên, giáo viên có mức thu nhập xứng đang với năng lực làm việc. Hiện nay, trường Đại hội Tôn Đức Thắng, thành phố Hồ Chí Minh đang là đơn vị tiên phong làm tốt công tác tự chủ, theo đó lương của giảng viên đều không dưới 15 triệu đồng/tháng.
Bốn là, hoạch định cơ chế ngoài chính sách phát triển giáo dục ngoài công lập để đỡ gánh nặng cho ngân sách và lành mạnh hóa môi trường giáo dục. Nghị quyết 19 của Trung ương Đảng vừa ban hành cũng nêu rõ: “Sắp xếp, tổ chức lại gắn với nâng cao chất lượng giáo dục, hình thành trường phổ thông nhiều cấp học (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông) phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của mỗi địa phương, địa bàn cụ thể. Rà soát, sắp xếp, điều chỉnh lại quy mô lớp học một cách hợp lý; thu gọn lại các điểm trường trên nguyên tắc thuận lợi cho người dân và phù hợp với điều kiện thực tế của vùng, miền, địa phương. Tạo điều kiện chuyển đổi mô hình các cơ sở giáo dục mầm non, trung học phổ thông từ công lập ra ngoài công lập ở những nơi có khả năng xã hội hoá cao.”
Các trường ngoài công lập sẽ góp phần không nhỏ vào việc giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước, tăng tính cạnh tranh với các trường công lập, từ đó giúp nâng cao chất lượng giáo dục, lành mạnh hóa bộ máy giáo dục của đất nước. Tuy nhiên thực tế hiện nay, việc phát triển hệ thống trường phổ thông ngoài công lập hiện nay của chúng ta mới chỉ dừng lại ở các thành phố lớn, song số lượng chưa nhiều, các trường ngoài công lập còn gặp nhiều khó khăn, chưa có chính sách ưu đãi cụ thể. Đây là vấn đề các nhà quản lý cần nghiêm túc quan tâm và xem xét.
Năm là, tăng học phí ở các cấp học, đặc biệt là đào tạo Đại học. Trong bối cảnh thị trường giáo dục đang trở nên phổ biến và nhận được sự đồng thuận của nhiều nhà giáo dục trên thế giới, việc tăng học phí trở thành vấn đề bắt buộc ở các trường. Tăng học phí để các trường có đủ nguồn kinh phí tiến hành chi trả lương cho giáo viên và tái đầu tư vào nhà trường. Tất nhiên, như chúng ta đều biết, mục tiêu căn bản và lâu đời nhất của giáo dục là đào tạo nhân tài, vì vậy trên thực tế các trường học trên thế giới đều tổ chức dưới hình thức phi lợi nhuận hoặc không lợi nhuận. Nghĩa là, hoặc nhà trường tính toán, cân đối đủ thu chi và đưa ra mức học phí phù hợp; Hoặc là, khoản tiền lãi thu được từ hoạt động giáo dục được nhà trường dùng để tiến hành tái đầu tư, phát triển cơ sở vật chất, nghiên cứu cho nhà trường, mà đối tượng hưởng lợi cuối cùng chính là người học. Tăng học phí sẽ gây ra gánh nặng cho một số đối tượng học sinh, sinh viên, điều này là không thể tránh khỏi, vì thế Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế cho vay ưu đãi để người học có điều kiện học tập. Đây cũng chính là cách mà Mỹ áp dụng lâu nay để duy trì nền giáo dục của họ giữ vị trí số một thế giới.
Cuối cùng, việc tăng lương trước hết cần tiến hành theo khu vực và đối tượng. Trước mắt, những giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục ở các trường vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn, giáo viên mầm non nên là những đối tượng được ưu tiên xét tăng lương trước. Bởi thực tế, sự hy sinh và những đóng góp của họ đối với ngành giáo dục là điều chúng ta ai cũng có thể nhìn thấy.
Kết luận: Thực tế cho thấy, tăng lương cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục là yêu cầu hết sức cấp bách hiện nay, để có thể thu hút học sinh giỏi lựa chọn ngành sư phạm, đồng thời giúp giáo viên có thể chuyên tâm công tác, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo. Tuy nhiên, trước thực tế khó khăn của ngân sách Nhà nước, việc tăng lương là không hề đơn giản, buộc chúng ta phải tính toán kỹ lưỡng và lựa chọn nhiều giải pháp gián tiếp mới có thể thực hiện được mục tiêu.
Lương giáo viên cần cao bằng hay cao hơn lương sĩ quan Quân đội, Công an, kỳ thực đó chỉ là những con số mang tính chất tham khảo. Hơn hết, chúng ta cần hiểu rằng, việc tăng lương là nhằm mục đích đảm bảo cho giáo viên có được một mức thu nhập đáp ứng được những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống, xứng đáng với công sức lao động mà họ đã bỏ ra. Qua những phần tích và các giải pháp đề xuất ở trên, tác giả hy vọng có thể góp một phần nhỏ nhằm giải quyết tình trạng trước mắt, góp phần nâng cao đời sống cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền giáo dục nước nhà.
Viện Nghiên cứu Pháp luật & Chính sách Kinh tế