Banner web Mobile-Recovered-Recovered

VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH KINH TẾ

TRỰC TIẾP: Hội nghị công bố quy hoạch và xúc tiến đầu tư Đồng bằng sông Cửu Long

Sáng 21/6, tại Thành phố Cần Thơ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự Hội nghị công bố quy hoạch và xúc tiến đầu tư vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức.

Triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, thời gian qua,Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành liên quan đã rất nỗ lực xây dựng và phê duyệt quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và triển khai Luật Quy hoạch nói chung. Ngày 21/6, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức Hội nghị công bố quy hoạch và xúc tiến đầu tư vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030. Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long lần này là quy hoạch vùng đầu tiên được ban hành theo Luật Quy hoạch, thể hiện “tư duy mới, tầm nhìn mới, giá trị mới, cơ hội mới” cho tương lai phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là trong bối cảnh thích ứng biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Tham dự Hội nghị có Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành, Chủ tịch Hội đồng điều phối vùng Đồng bằng sông Cửu Long; đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành, địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Tất cả Tổng thuật

10:21 ngày 21/06/2022

Đại diện lãnh đạo các doanh nghiệp, tập đoàn trong và ngoài nước phát biểu ý kiến về các lĩnh vực quan tâm đầu tư và nêu một số kiến nghị, đề xuất.

10:13 ngày 21/06/2022

Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Huỳnh Quốc Việt trinh bày về phát triển kinh tế biển bền vững gắn với bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn, bảo vệ bờ biển, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.

10:02 ngày 21/06/2022

Quy hoạch giúp liên kết chặt chẽ An Giang với khu vực và cả nước

Trình bày về thực trạng triển khai quy hoạch tỉnh An Giang trong bối cảnh thực hiện quy hoạch vùng, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình cho biết: Ngày 28/02 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 287/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 với những quan điểm, mục tiêu phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên, tiềm năng và thế mạnh, ý chí và quyết tâm vươn lên của các tỉnh, thành trong vùng nói chung và của tỉnh An Giang nói riêng.

Điều này có nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của vùng Đồng bằng sông Cửu Long được xác định là trung tâm kinh tế nông nghiệp xanh, sản xuất hàng hóa lớn, chất lượng và giá trị gia tăng cao của quốc gia, khu vực và thế giới, vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn phát triển theo hướng hiện đại, sinh thái, văn minh, mang đậm bản sắc văn hóa sông nước.

Các định hướng này sẽ giúp các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhận định rõ nét những phương hướng phát triển của toàn vùng, từ đó xây dựng, hoạch định những định hướng phát triển và hoàn chỉnh Quy hoạch cấp tỉnh phù hợp với chủ trương chung của toàn vùng và cả nước. Đây còn là một cơ sở vững chắc và dài hạn để dẫn dắt, kết nối các địa phương trong vùng, tạo cơ hội phát huy thế mạnh của từng địa phương, hướng đến sự phát triển chung của toàn vùng và rộng ra cả nước.

An Giang là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm vùng Đằng sông Cửu Long, có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội gắn với bảo vệ an ninh, quốc phòng. Với đường biên giới dài gần 100 km tiếp giáp Vương quốc Campuchia, An Giang có thế mạnh đặc thù trong phát triển kinh tế biên mậu, được Thủ tướng Chính phủ chọn là một trong tám khu kinh tế trọng điểm của cả nước.

Với tiềm năng, lợi thế của mình, tỉnh An Giang tập trung đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi sản xuất ngành nông nghiệp từ chiều rộng sang chiều sâu, ứng dụng công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển công nghiệp chế biến phục vụ nông nghiệp; tiếp tục khai thác ngành dịch vụ – thương mại, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm, phù hợp nhu cầu của thị trường.

Phát triển mạnh mẽ khu kinh tế cửa khẩu gắn với bảo vệ quốc phòng, an ninh; định hướng trở thành đầu mối giao thương hàng hóa, dịch vụ của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với thị trường Campuchia và các nước ASEAN; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa bản địa, phát triển du lịch tâm linh, sinh thái gắn với bảo vệ môi trường.

Thời gian qua, tỉnh An Giang luôn quán triệt công tác lập quy hoạch là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng và thường xuyên nhằm phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh; An Giang đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành nghiêm túc nghiên cứu các quy định, hướng dẫn của Trung ương với mục tiêu xây dựng “Quy hoạch tỉnh An Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050” có chất lượng, khả thi, hiệu quả; cân đối nguồn vốn đầu tư công ngân sách tỉnh đảm bảo cho công tác lập Quy hoạch và đầu tư cho phát triển.

Quy hoạch tỉnh An Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 sẽ tích hợp và thay thế cho hơn 50 loại quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch cấp huyện. Đây là nhiệm vụ rất khó khăn và thách thức, song sẽ tạo tính thống nhất, đồng bộ trong công tác quản lý nhà nước đối với nền kinh tế – xã hội; tăng cường phối hợp giữa các sở, ban, ngành cấp tỉnh; liên kết chặt chẽ giữa tỉnh An Giang với các tỉnh, thành phố trong khu vực và trên cả nước. Đồng thời phù hợp định hướng phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Quy hoạch tỉnh An Giang sẽ là kim chỉ nam cho công tác chỉ đạo, điều hành nền kinh tế – xã hội trong thời gian tới một cách bài bản, khoa học, khai thông và tận dụng tối đa các nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội tỉnh An Giang bền vững, gắn với bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Hiện nay, Quy hoạch tỉnh An Giang được thực hiện rất khẩn trương, kỹ lưỡng và trong giai đoạn tổ chức lấy ý kiến góp ý của các chuyên gia trong và ngoài nước và các bộ, ngành Trung ương.

UBND tỉnh An Giang sẽ nghiêm túc tiếp thu toàn diện quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, phấn đấu trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tỉnh An Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đúng theo thời gian quy định.

Đề nghị thành lập Tổ công tác triển khai quy hoạch

Để quy hoạch tỉnh An Giang được triển khai thông suốt, hiệu quả và hiệu lực, đồng bộ với quy hoạch chung của toàn vùng, UBND tỉnh An Giang kiến nghị Chính phủ, các bộ ngành Trung ương ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, xây dựng các chương trình, đề án; phân công nhiệm vụ cụ thể đến từng tỉnh, thành phố trong vùng để các địa phương chủ động triển khai thực hiện.

Đối với các dự án, chương trình, đề án thuộc quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương quan tâm hỗ trợ về nguồn lực đầu tư, đặc biệt đối với các dự án kết nối hạ tầng, tạo mạng lưới hạ tầng thông suốt kết nối các tỉnh, thành phố trong vùng.

Đặc biệt là các dự án lớn có ý nghĩa liên vùng như: Các tuyến cao tốc huyết mạch theo trục dọc và trục ngang kết nối các tỉnh, thành vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có dự án cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng. Phát triển hệ thống các trung tâm đầu mối về nông nghiệp gắn với vùng chuyên canh, kết nối với các đô thị có vai trò là trung tâm cấp vùng, tiểu vùng và các đầu mối hạ tầng quốc gia, liên vùng.

Do công tác triển khai Quy hoạch theo Luật Quy hoạch được thực hiện lần đầu tiên, trong quá trình triển khai khó tránh khỏi lúng túng, vướng mắc, tỉnh kiến nghị Thủ tướng Chính phủ thành lập Tổ công tác hỗ trợ các tỉnh, thành phố.

Tỉnh cũng đề nghị Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tiếp tục hỗ trợ các địa phương kịp thời cập nhật quy hoạch hành lang biên giới từ Long An đến Kiên Giang vào các nội dung quy hoạch của ngành và tích hợp vào Quy hoạch tỉnh. Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn các tỉnh của vùng Đồng bằng sông Cửu Long thực hiện đồng bộ nội dung phòng, chống thiên tai trong công tác lập quy hoạch, liên kết phát triển kinh tế – xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

09:55 ngày 21/06/2022

Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Trần Việt Trường chia sẻ về vai trò, vị trí của Cần Thơ là trung tâm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong liên kết phát triển vùng.

Sau 17 năm thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL thời kỳ 2001-2020 và 15 năm thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 17/02/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thành phố Cần Thơ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, khai thác và phát huy tốt các tiềm năng, lợi thế cho phát triển; kinh tế tăng trưởng khá với chất lượng tăng trưởng được nâng lên; ngân sách tự cân đối và có điều tiết về Trung ương; từng bước trở thành một trong những động lực tăng trưởng của vùng ĐBSCL. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng dịch vụ và công nghiệp là chủ đạo, từng bước khẳng định vai trò trung tâm của vùng ĐBSCL về công nghiệp và dịch vụ. Hoàn thành trước thời hạn chương trình nông thôn mới và tiếp tục xây dựng các xã nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu. Công tác quy hoạch và phát triển đô thị được thực hiện tốt, trở thành đô thị loại I trực thuộc Trung ương với tiêu chí “sáng, xanh, sạch, đẹp”; hướng tới là đô thị hạt nhân của vùng ĐBSCL, được vinh danh, nhận “Chứng chỉ ASEAN thành phố tiềm năng để trở thành thành phố bền vững về môi trường lần thứ 3 về không khí sạch”. Hợp tác quốc tế và liên kết vùng, đặc biệt là hợp tác phát triển vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL được thúc đẩy, bước đầu đạt được kết quả tích cực. Văn hóa, y tế, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ từng bước khẳng định là vai trò trung tâm vùng ĐBSCL. Bộ máy hành chính được đổi mới theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc.

Tuy nhiên, thành phố Cần Thơ vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: Phát triển kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; Chưa xây dựng các trung tâm liên kết sản xuất của vùng; Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch, nhất là quy hoạch đô thị thiếu bền vững; Kết cấu hạ tầng giao thông chưa đồng bộ… đã  ảnh hưởng đến sự phát triển của thành phố Cần Thơ và vùng ĐBSCL.

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị khóa XIII “về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

Để phát huy “Vai trò, vị trí của Cần Thơ là trung tâm của vùng ĐBSCL trong liên kết phát triển vùng”, thời gian tới thành phố Cần Thơ xác định “Ba trụ cột” quan trọng, đó là: (1) Bám sát sự chỉ đạo của Trung ương; (2) Phát huy nội lực của Cần Thơ; (3)Tăng cường liên kết để phát triển, cụ thể:

Thứ nhất, bám sát sự chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, ban, bộ, ngành Trung ương:

Trong thời gian qua, Trung ương đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, cơ chế đặc thù cho Cần Thơ, thành phố rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và các tỉnh, thành bạn trong việc phối hợp triển khai các giải pháp xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ theo tinh thần Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Cần Thơ theo Nghị quyết số 45/2022/QH15 của Quốc hội để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Thành phố bám sát chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ với bộ, ban, ngành, Trung ương thực hiện đầu tư hệ thống giao thông đồng bộ, đường thủy, đường hàng không, đường sắt nhằm tạo sự kết nối thuận lợi giữa thành phố Cần Thơ và các tỉnh trong vùng, cũng như kết nối với Thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt là tuyến cao tốc theo trục dọc (Trung Lương – thành phố Cần Thơ – Cà Mau); trục ngang (Châu Đốc – thành phố Cần Thơ – Sóc Trăng). Đầu tư thành phố “sân bay”, xây dựng Trung tâm liên kết, sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của vùng ĐBSCL tại thành phố Cần Thơ; ưu tiên xây dựng hệ thống logistics hàng không, cảng sông, trung tâm logistics cấp vùng tại Cần Thơ; Đầu tư các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố (Khu CN VSIP; Khu công nghiệp Hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản, vườn ươm công nghệ Việt Nam – Hàn Quốc), phát triển trung tâm khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo vùng tại Cần Thơ; phát triển khu năng lượng điện Ô Môn phù hợp quy hoạch năng lượng quốc gia. Đưa vào quy hoạch cả nước về điều chỉnh quy hoạch phát triển các khu công nghiệp của thành phố giai đoạn 2020 – 2030.

Thứ hai, phát huy nội lực, tiềm năng, lợi thế của thành phố Cần Thơ: Cần Thơ nằm ở vị trí trung tâm ĐBSCL, với giao điểm của hai trục kinh tế – đô thị năng động nhất của vùng ĐBSCL (trục hành lang Thành phố Hồ Chí Minh – thành phố Cần Thơ và trục sông Hậu); là đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ, đường thủy, đường hàng không; là địa bàn trọng yếu, chiến lược về quốc phòng – an ninh của vùng và cả nước.

Thành phố là trung tâm phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; với hệ thống các trường đại học, cao đẳng và đào tạo nghề để cung ứng nguồn nhân lực cho Thành phố và các tỉnh ĐBSCL; xây dựng Người Cần Thơ “Trí tuệ, năng động, nhân ái, hào hiệp, thanh lịch”.

Thành phố tổ chức triển khai ứng dụng công nghệ số trong quản lý hành chính và ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý, điều hành; tiếp tục nâng cao chất lượng phục vụ cải cách hành chính tăng sức cạnh tranh…sớm triển khai Quy hoạch thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, phù hợp với quy hoạch cấp quốc gia và quy hoạch vùng ĐBSCL. Trong đó, chú trọng quy hoạch đô thị theo hướng đô thị sông nước sinh thái; đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng đô thị để Cần Thơ thật sự là đô thị hạt nhân của vùng ĐBSCL, có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu; thí điểm xây dựng đô thị thông minh và mô hình quản trị đô thị mới.

Hoàn thiện kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; xây dựng khu công nghệ cao thành phố Cần Thơ theo định hướng trở thành khu công nghệ cao quốc gia; Phát triển nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ truyền thống và mở rộng các dịch vụ mới có tiềm năng và giá trị gia tăng lớn, đặc biệt là dịch vụ logistics; xây dựng hạ tầng thương mại đồng bộ, trung tâm thương mại lớn, hiện đại; Trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế cấp vùng. Xây dựng thành phố Cần Thơ trở thành trung tâm du lịch của vùng ĐBSCL.

Chú trọng phát triển chính quyền điện tử, kinh tế số, xã hội số và tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo, công nghiệp chế biến, công nghiệp phụ trợ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Phát triển văn hóa đồng bộ với phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân; huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe Nhân dân; đảm bảo an sinh xã hội; xây dựng môi trường văn hóa mang đậm bản sắc văn hóa đặc trưng của thành phố và vùng ĐBSCL; giữ vững quốc phòng – an ninh…

Thứ ba, tăng cường liên kết các địa phương vùng ĐBSCL, Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh khác trong cả nước; đẩy mạnh hợp tác quốc tế:

Nhằm phát huy tốt vai trò trung tâm của thành phố Cần Thơ, tăng cường liên kết, phối hợp các tỉnh ĐBSCL, các tỉnh liên vùng, nhất là Thành phố Hồ Chí Minh để khẳng định Cần Thơ là cực tăng trưởng của vùng ĐBSCL, của cả nước và đóng vai trò kết nối nước ta với các nước Tiểu vùng sông Mekong mở rộng.          

Liên kết chặt chẽ và hiệu quả sẽ thu hút nhiều tập đoàn bán buôn, bán lẻ lớn, có uy tín để thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng, nâng cao chất lượng hàng hóa và hệ thống phân phối. Kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư phát triển hạ tầng thương mại, đặc biệt kêu gọi đầu tư vào các trung tâm, siêu thị, chợ đầu mối, chợ chuyên ngành,… đáp ứng nhu cầu phát triển của thành phố và vùng ĐBSCL.

Chủ động rà soát, nghiên cứu, đề xuất Trung ương các cơ chế chính sách phát triển liên kết nội vùng ĐBSCL và liên vùng, nhất là Thành phố Hồ Chí Minh. Phát huy lợi thế riêng biệt, sẵn có của Cần Thơ và các tỉnh trong vùng, đặc biệt là giáo dục-đào tạo, y tế, giao thông vận tải, logistics, công nghiệp chế biến, nghiên cứu khoa học-công nghệ và du lịch. Liên kết đẩy mạnh xúc tiến đầu tư và thương mại, huy động mọi nguồn lực, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội; đào tạo nghề, tạo việc làm; nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ; xây dựng các chương trình, các tuyến du lịch liên tỉnh, liên vùng; tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng tham gia liên kết vùng, hội nhập quốc tế.

Chủ tịch UBND Thành phố Cần Thơ khẳng định, Thành phố quyết tâm thực hiện hiệu quả “Ba trụ cột”: (1) Bám sát sự chỉ đạo của Trung ương; (2) Phát huy nội lực của Cần Thơ; (3) Tăng cường liên kết để phát triển, sẽ là nền tảng vững chắc như kiềng 3 chân tạo đà, bứt phá trong phát triển thành phố Cần Thơ và vùng ĐBSCL. Đây cũng là nhiệm vu, giải pháp quan trọng để khẳng định “Vai trò, vị trí của Cần Thơ là trung tâm của vùng ĐBSCL trong liên kết phát triển vùng”. 

09:18 ngày 21/06/2022

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng trình bày báo cáo về thế mạnh và khả năng thúc đẩy liên kết vùng Đồng bằng sông Cửu Long về văn hóa, thể thao, du lịch đến năm 2030. 

Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng cho biết, Chính phủ nhiệm kỳ này hết sức quan tâm đến quy hoạch Đồng bằng sông Cửu Long. Từ tháng 8/2021 đến tháng 3/2022, dưới sự chủ trì của Thủ tướng và các Phó Thủ tướng, đã có 2 hội nghị quan trọng để bàn về những vấn đề cốt lõi, tư duy phát triển Đồng bằng sông Cửu Long, nhấn mạnh vào việc quy hoạch luôn đi trước, quy hoạch có tính định hướng, quy hoạch để tạo tầm nhìn phát triển. Vì vậy, đồ án quy hoạch Đồng bằng sông Cửu Long đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng, lấy ý kiến các địa phương trong vùng để sớm trình Chính phủ ban hành và công bố.

Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng cho rằng đồ án này đã thể hiện thể hiện tư duy mới, giá trị mới, cơ hội mới và Quy hoạch tạo ra bước ngoặt phát triển của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Đồng bằng sông Cửu Long đã có hơn 300 năm hình thành và phát triển. Ở góc độ văn hoá, vùng đất này có văn hoá đậm đặc và mang bản sắc riêng của vùng; đó là văn hóa châu thổ, văn minh sông nước, văn hoá vật thể, phi vật thể đa dạng, văn hoá Óc Eo của người Việt cổ, của các dân tộc Khmer, Chăm, Việt cùng sinh sống, chia sẻ, giao lưu. Đó là văn hoá sông nước, miệt vườn, làng nghề, ẩm thực… Tất cả những điều này tạo nên cốt cách con người vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Trong phát biểu triển khai Nghị quyết 13, Tổng Bí thư đã nói: Người dân nơi đây kết tinh nhiều đức tính quý báu: Chịu thương chịu khó; tự chủ, tự lực, tự cường; năng động, sáng tạo; kiên cường, bất khuất, vượt qua những cảnh ngộ, bất trắc của cuộc sống; luôn coi trọng nghĩa tình; sống bình dị, chân thực, chân tình, cởi mở, phóng khoáng, mang nặng tình yêu thương con người, với cảnh quan, cỏ cây, sông nước. Cũng vì nét văn hoá sông nước này đã hình thành nên cốt cách văn hoá người vùng Đông Nam Bộ.

Đây là vùng đất có nhiều di tích lịch sử, trong đó có 9 di tích quốc gia đặc biệt, 204 di tích cấp quốc gia, 618 di tích cấp tỉnh. Đây là những tài nguyên văn hoá hết sức phong phú, đa dạng, giàu có. Trong đó, điểm nhấn văn hoá là Đờn ca tài tử được UNESCO vinh danh là di sản văn hoá phi vật thể đại diện cho nhân loại. Những giá trị này tạo ra sự giữ gìn, kết nối và phát triển với hiện đại. Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng nhấn mạnh, chúng ta phải phát huy, tôn tạo, giữ gìn, kết nối để phát triển văn hoá vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, sản phẩm du lịch là sản phẩm mang dấu ấn văn hoá mà vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải có những dấu ấn riêng.

Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đề nghị các địa phương khi triển khai đồ án cần tập trung nhiều hơn, cụ thể hoá để kết nối được hệ thống thiết chế văn hoá, thể thao và du lịch, nằm trong tổng thể quy hoạch chung của vùng. Từ đó, tạo ra các sản phẩm đặc sắc riêng có của từng địa phương, để 13 địa phương đều có sản phẩm văn hoá đặc trưng riêng của mình.

Về nội dung này, người đứng đầu Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cũng đã nêu ra một số gợi mở, ví dụ sản phẩm Con đường di sản, Liên hoan đờn ca tài tử, ẩm thực dân gian của miền Đông Nam Bộ… Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng nhấn mạnh, phải bắt đầu từ cái cụ thể thì mới tạo ra sức lan toả, có hướng phát triển chiều sâu, để chợ nổi, làng nghề, du lịch miệt vườn… luôn mang đậm dấu ấn văn hoá của một vùng đất Đông Nam Bộ. Đưa văn hoá trở thành động lực tinh thần góp phần vào sự phát triển của đồ án quy hoạch Đồng bằng sông Cửu Long.

09:11 ngày 21/06/2022

Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên phát biểu về xúc tiến thương mại phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và định hướng phát triển năng lượng tái tạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên, vùng ĐBSCL có vị thế, vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; là vùng sản xuất và xuất khẩu lương thực, thực phẩm và trái cây lớn của cả nước. Đây còn là vùng có vị trí chiến lược về quốc phòng – an ninh, giàu tiềm năng về tài nguyên và năng lượng tái tạo, có nhiều lợi thế phát triển kinh tế biển, biên mậu và giao thương quốc tế…

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, vùng ĐBSCL vẫn chưa khai thác hết tiềm năng và lợi thế của mình, chưa tranh thủ được độ mở cao của nền kinh tế với nhiều hiệp định thương mại tự do (cả song phương và đa phương) đã được ký kết để thúc đẩy phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Sản xuất nông nghiệp của vùng còn manh mún, chưa có quy hoạch bảo đảm, sản xuất chưa theo tín hiệu của thị trường; nhiều loại nông sản, trái cây chưa được chế biến, chủ yếu là xuất khẩu thô và tiêu thụ qua đường tiểu ngạch, chất lượng sản phẩm không ổn định, chưa đáp ứng được tiêu chuẩn của các thị trường xuất khẩu; liên kết trong chuỗi giá trị sản xuất và tiêu thụ sản phẩm còn yếu. Sản xuất công nghiệp của vùng chủ yếu vẫn tập trung vào các ngành thâm dụng đất đai, lao động với giá trị thấp; phát triển năng lượng còn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế…

Để khắc phục tình trạng trên, thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ cùng các bộ, ngành địa phương trong vùng tập trung thực hiện những nội dung sau:

Trước hết, Bộ sẽ khẩn trương xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về một số nhiệm vụ thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững vùng ĐBSCL, chủ động thích ứng biến đổi khí hậu để cụ thể hóa các nhiệm vụ được giao cho ngành, làm cơ sở tổ chức thực hiện đồng bộ, xuyên suốt trong toàn ngành từ trung ương đến địa phương.

Thứ hai là nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại phát triển mạnh mẽ thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, theo đó, Bộ sẽ:

(1) Chủ động tăng cường cung cấp thông tin thị trường, tăng cường kết nối tiêu thụ nông sản, hỗ trợ khai thác lợi thế của các FTA cho các địa phương, DN trong vùng; tổ chức triển khai hiệu quả Đề án Đổi mới phương thức kinh doanh tiêu thụ nông sản nhằm tiêu thụ tối đa sản phẩm nông sản.

(2) Trong khuôn khổ Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại, Bộ sẽ phối hợp với các địa phương xây dựng đề án xúc tiến thương mại quy mô cấp vùng với các hình thức xúc tiến thương mại khác nhau tại khu vực ĐBSCL, xúc tiến nông sản tại nước ngoài, quảng bá sản phẩm trên môi trường số, qua các kênh phân phối truyền thống và các sàn giao dịch thương mại điện tử…..

(3) Trong khuôn khổ Chương trình Thương hiệu quốc gia, Bộ sẽ tiếp tục hỗ trợ các địa phương quảng bá thương hiệu nông sản, sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại thị trường trong nước và xuất khẩu; khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp đăng ký tham gia, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm nông sản của vùng.

(4) Phối hợp các bộ, ngành chức năng trong đàm phán mở cửa thị trường xuất khẩu cho các mặt hàng trái cây và nông sản; làm tốt việc công nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn kỹ thuật, duy trì và đảm bảo chất lượng hàng hóa đáp ứng tiêu chuẩn của các thị trường.

Nhân hội nghị này, Bộ trưởng Bộ Công Thương đề nghị các địa phương trong Vùng phối hợp thực hiện:

Một là, quy hoạch lại vùng trồng, vùng nuôi hợp lý; thu hút đầu tư trong sản xuất, chế biến và ứng dụng công nghệ bảo quản nhằm nâng cao chất lượng và hàm lượng giá trị của sản phẩm; xây dựng thương hiệu, mã số, vùng trồng, vùng nuôi để hàng hóa đáp ứng các tiêu chuẩn của các thị trường xuất khẩu; Kết nối với các cơ quan chức năng của Bộ và các Thương vụ của Việt Nam ở nước ngoài nắm bắt các thông tin thị trường để định hướng cho sản xuất.

Hai là, hướng dẫn doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng chuyển nhanh, chuyển mạnh sang xuất khẩu chính ngạch theo tiêu chuẩn và quy định của thương mại quốc tế. Chú trọng công tác marketing, xây dựng thương hiệu, bảo hộ những sản phẩm đặc sản từng vùng miền, có chỉ dẫn địa lý để hàng hóa ĐBSCL có chỗ đứng và đi sâu vào các khu vực thị trường thay vì tập trung chủ yếu ở các thị trường khu vực gần biên giới.

Ba là, chủ động xây dựng kế hoạch xúc tiến thương mại phù hợp với nhu cầu và năng lực xúc tiến thương mại của doanh nghiệp địa phương, chú trọng khai thác hiệu quả các công cụ số, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng CNTT trong xúc tiến thương mại; Triển khai hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại mang tính liên kết vùng theo Kế hoạch xúc tiến thương mại cấp Vùng do các địa phương đã thống nhất xây dựng với sự hướng dẫn của Bộ Công Thương;

Bốn là, tập trung quy hoạch, xây dựng hoàn thiện hệ thống hạ tầng (giao thông, vận tải, logistics…) nhằm tăng khả năng kết nối phục vụ lưu thông, tiêu thụ các sản phẩm nông sản chủ lực.

Thứ ba, về định hướng phát triển năng lượng tái tạo

Phát triển năng lượng tái tạo là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước đã được cụ thể hóa tại Nghị quyết 55-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tại COP26, Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và giảm 30% lượng phát khí nhà kính vào năm 2030, đây là cơ hội rất lớn cho phát triển năng lượng tái tạo của toàn vùng.

Tại Dự thảo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện VIII) đã được Bộ Công Thương trình Chính phủ, dự kiến tỉ lệ công suất nguồn năng lượng gió, mặt trời chiếm tỉ trọng 18-23% tổng công suất hệ thống. Theo danh mục nguồn điện trong Dự thảo Quy hoạch điện VIII, khu vực Nam Bộ (bao gồm cả Vùng ĐBSCL) dự kiến đến năm 2030 phát triển khoảng gần 8.000 MW điện gió trên bờ và ngoài khơi; điện mặt trời phát triển giai đoạn sau năm 2030. Quy hoạch lần này chỉ quy hoạch tổng quy mô công suất theo vùng, miền, không  quy hoạch dự án cụ thể. Sau khi Quy hoạch điện VIII được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Công Thương sẽ xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện. Riêng các dự án mua bán điện trực tiếp và sử dụng tại chỗ, Bộ đang trình các cấp có thẩm quyền cho phép để triển khai thực hiện.

Nhân hội nghị này, Bộ Công Thương đề nghị các địa phương: (1) Sau khi Quy hoạch điện VIII được phê duyệt, phối hợp chặt chẽ với Bộ trong việc khảo sát, đề xuất các dự án phát triển năng lượng tái tạo phù hợp với tiềm năng và lợi thế của từng địa phương, chú trọng các dự án liên kết vùng, tích hợp vào quy hoạch tỉnh (2) Đẩy mạnh thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước để sớm trở thành trung tâm về năng lượng sạch, năng lượng tái tạo của đất nước (3) Tập trung cải cách hành chính, môi trường kinh doanh, tạo thuận lợi trong giải phóng mặt bằng cho các dự án (4) Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội toàn vùng.

Để triển khai hiệu quả Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị, Chương trình hành động của Chính phủ và Quy hoạch Vùng ĐBSCL thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050, về phía Hội đồng điều phối Vùng, cần có cơ chế đối thoại định kỳ để kịp thời thảo luận, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

09:04 ngày 21/06/2022

TRỰC TIẾP: Hội nghị công bố quy hoạch và xúc tiến đầu tư Đồng bằng sông Cửu Long - Ảnh 1.
Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể: Khi chúng ta công bố quy hoạch phát triển ĐBSCL, với Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị về phát triển ĐBSCL và qua hội nghị hôm nay, trong một vài năm tới, ĐBSCL sẽ là một trong những khu vực tăng trưởng lớn của đất nước – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Văn Thể trình bày về kế hoạch đầu tư phát triển hạ tầng giao thông vận tải vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2025-2030:

Về kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2022-2030, Bộ GTVT xác nhận với hội nghị là Bộ đã nghiên cứu ngành giao thông để phát triển kết cấu hạ tầng giao thông giúp cho ĐBSCL phát triển một cách tốt nhất. Chúng tôi nhận thấy giao thông vận tải của ĐBSCL hiện nay đang là điểm nghẽn rất lớn. Mặc dù Đảng và Nhà nước đã rất tập trung đầu tư nhưng hệ thống giao thông hiện nay vẫn chưa đạt được yêu cầu. Vì thế để chuẩn bị cho nhiệm kỳ 2021-2025, trong mấy tháng vừa qua, Bộ GTVT đã rất tập trung để điều chỉnh quy hoạch giao thông, trong đó chúng tôi xác định giao thông vận tải đóng góp gì cho khu vực ĐBSCL, nhất là việc thu hút các nhà đầu tư đến với khu vực này để phát triển. Do đó, về quy hoạch chúng tôi xin báo cáo có một số điểm đột phá:

Thứ nhất, chúng tôi đã đảm bảo cho tàu 10.000 tấn đến với TP. Cần Thơ và một số cảng hiện nay, đồng thời bổ sung cảng nước sâu Trần Đề, xem như là cửa ngõ chính của ĐBSCL, để tàu 80.000-100.000 tấn có thể hoạt động khu vực này.

Thứ hai, về hàng không, ngoài sân bay Cần Thơ, chúng tôi đang nghiên cứu để nâng cấp 3 sân bay: Một là sân bay Phú Quốc, cần thiết nghiên cứu thêm đường băng; sân bay Cà Mau và Rạch Giá cũng đang trong kế hoạch nâng cấp để đảm bảo tàu bay A320 có thể đỗ được ở đây.

Về đường bộ, chúng tôi đánh giá đây là lĩnh vực hết sức cần thiết và cần kết nối cảng biển với trung tâm thành phố Cần Thơ. Do đó, trong nhiệm kỳ này, có thể nói Đảng, Nhà nước, đặc biệt là Chính phủ và Quốc hội đã tập trung cho ĐBSCL rất lớn. Đến thời điểm này, chúng tôi xác định có 86.000 tỷ đồng vốn ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội thống nhất để tập trung phát triển đột phá hệ thống đường cao tốc ở khu vực này.

Hiện nay, cả vùng đồng bằng mới có 90 km đường cao tốc và chúng ta đang triển khai 30 km nữa. Như vậy, trong những năm qua, chúng ta triển khai được 120 km mà mới đạt được 90 km. Tuy nhiên trong nhiệm kỳ này, chúng tôi bố trí đầu tư 400 km đường cao tốc, gồm những trục chính kết nối TPHCM với Cần Thơ, từ Cần Thơ kết nối mũi Cà Mau. Tuyến cao tốc quan trọng nữa là An Thủ (Cao Lãnh) qua Rạch Giá. Nếu chúng ta đạt kế hoạch thì cuối nhiệm kỳ này có thể đạt 400 km đường cao tốc, cộng với khoảng 130 km hiện nay đang triển khai thì chúng ta sẽ có 500 km đường cao tốc.

Chúng tôi xác định cao tốc phải kết nối với phát triển kinh tế, do đó điểm cuối của hệ thống cao tốc này kết nối với cảng Trần Đề. Từ Cảng Trần Đề, tàu 100.000 tấn chỉ cách thành phố Cần Thơ 60 km. Với hệ thống đường cao tốc cùng cảng Trần Đề, sân bay quốc tế Cần Thơ, chúng tôi tin chắc sau nhiệm kỳ này, khu vực ĐBSCL sẽ là nơi rất thuận lợi cho phát triển kinh tế. Đặc biệt các nhà đầu tư trong và ngoài nước có thể đến đây, hình thành các khu công nghiệp.

Chúng tôi đã điều chỉnh quy hoạch và Chính phủ đã đồng tình. Chúng tôi trình Quốc hội thì Quốc hội cũng biểu quyết các dự án. Nếu chúng ta thực hiện tốt thì thu hút đầu tư và tiềm năng, thế mạnh khu vực này sẽ cao, đặc biệt là tạo điều kiện cho khu vực này phát triển đột phá theo các vùng, miền.

Ngoài ra, chúng tôi cũng tập trung phát triển vận tải biển, vận tải đường thủy, vì hiện nay khu vực này đường thủy rất phát triển. Chúng tôi sẽ tổ chức vận tải ven bờ để tổ chức các cảng biển từ Bắc vào Nam, đột phá vận tải biển ở sông Tiền, sông Hậu và hai trục đường thủy kết nối TPHCM với ĐBSCL. Chúng tôi cũng đang nghiên cứu để báo cáo Chính phủ và báo cáo Quốc hội chủ trương xây dựng đường sắt kết nối TPHCM với Cần Thơ. 

Tóm lại, trong nhiệm kỳ này, có thể nói dấu ấn về GTVT sẽ rất đậm nét. Sau nhiệm kỳ này, chắc chắn ĐBSCL sẽ có tiềm năng và thế mạnh để phát triển đột phá.

Nhân hội nghị này, chúng tôi mong các nhà đầu tư quan tâm đến ĐBSCL, bởi với hệ thống giao thông mà chúng tôi vừa trình bày, chắc chắn sẽ thuận lợi cho phát triển kinh tế.

Các địa phương, các tỉnh cần đồng tâm hiệp lực thực hiện các kế hoạch phát triển giao thông một cách đột phá. Nếu các tỉnh làm tốt thì chúng ta sẽ có điều kiện thu hút đầu tư tốt hơn.

Chúng tôi cũng mong nhân dân các tỉnh ĐBSCL vì sự phát triển chung của đồng bằng, thực hiện chính sách giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi để triển khai có kết quả. Khi chúng ta công bố quy hoạch phát triển ĐBSCL, với Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị về phát triển ĐBSCL và qua hội nghị hôm nay, trong một vài năm tới, ĐBSCL sẽ là một trong những khu vực tăng trưởng lớn của đất nước.

08:48 ngày 21/06/2022

TRỰC TIẾP: Hội nghị công bố quy hoạch và xúc tiến đầu tư Đồng bằng sông Cửu Long - Ảnh 1.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan trình bày báo cáo tái cơ cấu nông nghiệp và thu hút đầu tư phát triển công nghiệp chế biến, hệ thống kết cấu hạ tầng thủy lợi vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Tương quan giữa Quy hoạch và Cơ cấu lại nền Nông nghiệp

Đồng bằng sông Cửu Long là không gian kinh tế đầu tiên trong cả nước thực hiện quy hoạch tích hợp cấp vùng. Hội nghị Công bố Quy hoạch và Xúc tiến Đầu tư hôm nay có ý nghĩa quan trọng, cho thấy sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với vùng đất này. Quy hoạch nhất quán quan điểm phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long bền vững, tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu, chú trọng bảo vệ, tôn tạo và phát triển nền tảng văn hóa – xã hội và lấy hệ sinh thái tự nhiên, “con người” làm trung tâm. Theo nhiều chuyên gia, Quy hoạch này sẽ là bước ngoặc để kinh tế – xã hội Đồng bằng được kích hoạt, tiềm năng sẽ được đánh thức, nhờ những vấn đề nội tại dần được khắc phục, cơ hội mới được mở ra.

Theo đó, quy hoạch nông nghiệp hướng đến tính tổng thể, chiến lược, chứ không chỉ là “phép cộng công thức” đơn thuần. Quy hoạch có tính “mở”, tính linh hoạt tương đối, để có thể chủ động thích ứng với xu thế biến đổi liên tục, không ngừng, với những câu hỏi kinh tế học từ trăm năm nay: “Sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, sản xuất như thế nào?” Sự điều phối theo chuỗi ngành hàng, tính liên kết vùng, tiểu vùng giữa các địa phương được chú trọng ngay đầu mùa vụ, chứ không phải chỉ tập trung xử lý khi nông sản ùn ứ sau thu hoạch. Mỗi địa phương có thể chủ động mở rộng không gian liên kết, phát triển trong không gian có sự điều phối cả vùng. Đất đai có thể manh mún, địa giới hành chính có thể bị chia cắt, nhưng không gian phát triển không thể manh mún, không gian kinh tế không thể bị chia cắt. Chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế là mệnh lệnh cấp thiết phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Văn phòng Điều phối Nông nghiệp, Nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long tại Thành phố Cần Thơ đã đi vào hoạt động. Văn phòng  đang thực hiện vai trò điều phối tích hợp thông tin nông nghiệp cấp vùng thông qua số hoá các cơ sở dữ liệu, công tác quy hoạch sản xuất, chuẩn hoá vùng nguyên liệu, chuẩn hoá quy trình sản xuất; kết nối doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, chế biến sâu; hình thành chuỗi ngành hàng thông qua các hiệp hội ngành hàng bắt đầu từ chuỗi lúa gạo, hỗ trợ nâng cao chất lượng hợp tác xã, hình thành mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ; điều phối vận hành các công trình thuỷ lợi đảm bảo đồng bộ toàn hệ thống. Ngoài ra, cũng sẽ hỗ trợ điều phối các dự án tài trợ quốc tế có tính liên tỉnh, liên vùng, kết hợp hài hoà giữa đầu tư công trình và các giải pháp phi công trình, mở ra không gian kinh tế nông thôn. Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang tích cực đàm phán, kêu gọi các dự án đầu tư hạ tầng logistic nông nghiệp, nông thôn, trong đó có chuỗi kho lạnh bảo quản nông sản cấp độ liên huyện, liên tỉnh dọc theo sông Hậu và sông Tiền.

Sản xuất nông nghiệp ít nhiều tác động đến biến đổi khí hậu. Tại Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo quốc gia trên thế giới, COP 26, Thủ tướng Chính phủ đã cam kết đến năm 2050 Việt Nam sẽ là quốc gia có nền kinh tế cân bằng các-bon. Nếu nói biến đổi khí hậu là một thách thức, thì từ góc nhìn tích cực, khi giải quyết được thách thức này, lại tạo ra thương hiệu cho Đồng bằng sông Cửu Long, mặc dù chịu tác động lớn của thiên nhiên, nhưng biết cách chủ động thích ứng, và phát triển một cách thông minh, hài hòa, thuận thiên.

Những mô hình nông nghiệp sinh thái, tích hợp “đa tầng, đa giá trị, thuận tự nhiên” gần đây đã xuất hiện ở nhiều địa phương trong Vùng: Mô hình kinh tế dưới tán rừng, mô hình tôm – lúa ở bán đảo Cà Mau, mô hình chuyển đổi từ độc canh cây lúa sang đa canh, xen canh đã tăng thu nhập cho nông dân vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, mô hình sản xuất thích ứng với hạn mặn ở các tỉnh duyên hải, mô hình du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp, nông thôn đang tạo ra nhiều hiệu ứng tích cực.

Về Trung tâm liên kết, sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản Vùng Đồng bằng sông Cửu Long tại Thành phố Cần Thơ

TRỰC TIẾP: Hội nghị công bố quy hoạch và xúc tiến đầu tư Đồng bằng sông Cửu Long - Ảnh 2.
Đồng bằng sông Cửu Long là không gian kinh tế đầu tiên trong cả nước thực hiện quy hoạch tích hợp cấp vùng. – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Trước nhất, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác định nhiệm vụ xây dựng “Trung tâm liên kết sản xuất chế biến tiêu thụ nông sản đồng bằng sông Cửu Long tại Thành phố Cần Thơ” có ý nghĩa, vai trò quan trọng trong tổng thể phát triển của Vùng. Đây là mô hình mới, nhận được nhiều sự quan tâm, vì vậy, tháng 5 vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng với Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân Thành phố Cần Thơ tổ chức hội thảo xin ý kiến 13 tỉnh, thành về Dự thảo Đề án. Nhìn chung, đa số ý kiến quan tâm đến yêu cầu xác định cụ thể, chi tiết, đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm, với vị thế kết nối mang tính liên vùng, có sức tác động sâu rộng đến sự tăng trưởng, phát triển của ngành nông nghiệp. Nhiều ý kiến cũng thảo luận chuyên sâu về cơ chế chính sách, lĩnh vực ưu tiên đầu tư, mô hình tổ chức, quản trị và cách thức, lộ trình xây dựng Trung tâm. Với trách nhiệm thẩm định và trình Thủ tướng “Quyết định về quy định chi tiết việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Trung tâm”, chúng tôi sẽ tiếp tục cùng với Uỷ ban nhân dân Thành phố Cần Thơ thực hiện các phần việc tiếp theo, nhằm nhanh chóng hoàn thiện Đề án, cùng các thủ tục thẩm định và trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 7/2022.

Để hoàn thiện Đề án đảm bảo tính khả thi, hiệu quả, mang tính thị trường cao, chúng tôi cùng với Cần Thơ tiếp tục làm rõ hơn mấy vấn đề cũng là câu hỏi đặt ra như sau.

– Thứ nhất, mô hình của Trung tâm như thế nào thì phù hợp, hiệu quả? Hoạt động theo cơ chế đầu tư công – quản trị công, đầu tư công quản trị tư hay kết hợp công tư trong đầu tư và vận hành. Tôi cũng biết có ý kiến đề xuất theo mô hình khu công nghiệp, tuy nhiên nhiều ý kiến chưa đồng tình vì vai trò đa chức năng, vừa vận hành theo thị trường của doanh nghiệp, vừa góp phần thúc đẩy nền sản xuất nông nghiệp cả vùng theo hướng bền vững, vươn tầm ra thế giới. Hơn nữa tính kết nối trung tâm với các vùng miền như thế nào, dự kiến giao thông (đường hàng không, đường bộ, đường thủy) mở rộng kết nối ra sao, cũng cần làm rõ thêm trong các bước tiếp theo.

Ngoài ra, cũng cần tính đến sự đa dạng về mức độ phân cực và nhu cầu kết nối của từng địa phương trong Vùng đến Trung tâm, do khác biệt về khoảng cách, sự thuận tiện trong giao thương, giao thông của từng địa phương với Thành phố Hồ Chí Minh.

– Thứ hai là các chính sách thí điểm theo Nghị quyết 45/2022/QH15 có thời hạn bao lâu? Nếu chỉ đến năm 2027 cho giai đoạn thí điểm thì có đủ sức hấp dẫn để thu hút được doanh nghiệp đầu tư vào không, vì hiện nay Đề án vẫn chưa bắt đầu triển khai. Ngoài ra, cần tính đến việc xây dựng kết cấu hạ tầng trong và bên ngoài Trung tâm?

– Thứ ba, là câu hỏi về việc khai thác, phát huy tính liên kết vùng, kết nối hiệu quả, liên tục, đồng bộ đến từng địa phương trong vùng. Cần xác định rõ đây là Trung tâm cấp Vùng đặt tại một địa phương, hay là Trung tâm của địa phương với nhiệm vụ kết nối cấp Vùng?

– Thứ tư là vấn đề lộ trình và phân kỳ đầu tư. Trong Dự thảo Đề án, kế hoạch được xây dựng đầu tư theo giai đoạn. Giả định như tại dự thảo, giai đoạn 1 là 350 ha, thì tính khả thi, hiệu quả được đánh giá như thế nào khi giai đoạn sau, diện tích đầu tư lên đến 3000 ha, thì liệu có đủ điều kiện, khả năng và nguồn lực để thực hiện không?

Về vấn đề an ninh nguồn nước và đầu tư vào thủy lợi

Sông Cửu Long chín cửa hai dòng. Nguồn nước sông Tiền, sông Hậu dồi dào, đất đai màu mỡ tạo nên thương hiệu vùng đất trù phú và hào sảng. Nhưng đấy là chuyện của những ngày đã qua. Biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, suy giảm tài nguyên nước, một số cửa sông bị bồi lắng, rồi biến mất, dòng chảy ít nhiều bị tác động bởi các công trình đập nước, hồ chứa ở thượng nguồn gây hệ luỵ sụt lún, sạt lở,… Xác định tính cấp thiết của thách thức này, Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị nhấn mạnh quan điểm phát triển vùng: “lấy tài nguyên nước là yếu tố cốt lõi”.

Tài nguyên nước không chỉ giới hạn ở “nước ngọt”, mà còn cả “nước lợ, nước mặn”. Tài nguyên nước gắn kết chặt chẽ, mật thiết với các vùng sinh thái nông nghiệp đa dạng, dựa vào nguồn nước, bao gồm: “vùng sinh thái nước ngọt, vùng sinh thái mặn – lợ, vùng chuyển tiếp ngọt lợ, ngọt – lợ luân phiên”. Tinh thần “chủ động, linh hoạt” thích ứng với sự thay đổi sẽ tiếp tục mở ra dư địa, không gian phát triển mới. Như cách thức một nhà khoa học phát minh thiết bị cảm biến tích hợp trí tuệ nhân tạo, đo đạc nồng độ mặn ngọt trên dòng Cổ Chiên, Trà Vinh, vốn thay đổi khác nhau theo từng giờ trong ngày, để tính toán thời điểm bơm nước tưới tiêu tốt nhất. Như cách thức các nhà nông học, người nông dân tâm huyết kiên trì lai tạo các giống cây trồng chịu hạn, chịu mặn, mà thành công nhất là các loại giống dòng ST và nhiều giống bản địa đang được phục tráng khác. Như cách thức nhiều địa phương hợp tác với các nhà khoa học tạo ra các mô hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tuần hoàn đa dạng về quy mô, dựa vào đặc điểm tự nhiên, tập quán sản xuất.

Với nguyên tắc “thuận thiên có kiểm soát”, các công trình thủy lợi cấp vùng và tiểu vùng sẽ tiếp tục được khai thác hiệu quả, tổ chức quản lý, vận hành thống nhất, an toàn, phù hợp với định hướng chuyển đổi, cơ cấu lại ngành nông nghiệp, tiêu biểu như hệ thống thuỷ lợi Cái Lớn – Cái Bé vừa đi vào hoạt động. Đồng thời, các giải pháp phi công trình, nâng cao năng lực cộng đồng, cải thiện sinh kế cho người dân sẽ được kết hợp hài hoà, đồng bộ.

Định hướng đầu tư vào thuỷ lợi

Áp dụng nguyên tắc “đầu tư không hối tiếc” trong triển khai thực hiện. Tiếp tục đầu tư hệ thống công trình theo mục tiêu kiểm soát mặn kèm theo hỗ trợ, bổ sung ngọt để sử dụng nước mặn thực sự là nguồn tài nguyên tại vùng chuyển đổi và vùng linh hoạt, đảm bảo tiếp tục phục vụ chuyển dịch sản xuất phù hợp đặc điểm, điều kiện theo từng vùng sinh thái. Đồng thời, tiếp tục đầu tư các công trình phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Trên cơ sở đó, sẽ chia làm 3 nhóm dự án để tính toán đầu tư như sau:

– Nhóm 1: Đầu tư các dự án, điều tiết kiểm soát mặn, cấp ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp.

– Nhóm 2: Đầu tư hệ thống trữ ngọt theo hướng mở rộng các hệ thống chứa nước hiện có, cung cấp nước sinh hoạt, trữ nước hộ gia đình cho người dân khu vực thường xuyên xảy ra xâm nhập mặn

– Nhóm 3: Đầu tư xử lý sạt lở bờ sông và củng cố hệ thống đê biển

Về xúc tiến, thu hút đầu tư liên Vùng

Một doanh nhân nước ngoài đã từng chia sẻ với tôi “Nhiều nhà đầu tư quốc tế có thể khó nhận biết chính xác từng địa phương riêng rẽ, nhưng chắc chắn đều biết đến Mekong Delta – Đồng bằng sông Cửu Long”. Liên kết Vùng Đồng bằng sông Cửu Long không phải là phép tính cộng về dân số, về diện tích, về nguồn lực hữu hình của 13 tỉnh, thành phố. Hơn hết, đó là độ mở, kết nối về tư duy, kết nối các nguồn lực vô hình, vô hạn, tạo dựng mối quan hệ hài hoà giữa “Nhà nước – Thị trường – Xã hội”, kiếm tìm xung lực mới, khởi tạo không gian phát triển mới.

Gần đây, nhiều Tập đoàn, doanh nghiệp lớn cũng đã triển khai những dự án quy mô có tính liên tỉnh, hứa hẹn sẽ kích hoạt tiềm năng cùng lúc cho nhiều địa phương. Đó là những tín hiệu lạc quan minh chứng cho sự sáng tạo, năng động và sức sống của Đồng bằng. Vấn đề là chúng ta cần nối kết, lan toả những giá trị đó. Khi ấy, mỗi địa phương, với điều kiện đặc thù, thế mạnh riêng biệt, sẽ đóng góp chủ động, hài hoà vào tổng thể không gian kinh tế chung. Khi ấy, Đồng bằng sẽ trở thành một thực thể kinh tế hoàn chỉnh, vận hành linh hoạt, năng động. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang tích cực đàm phán, kêu gọi các dự án đầu tư hạ tầng logistic nông nghiệp, nông thôn, trong đó có chuỗi kho lạnh bảo quản nông sản cấp độ liên huyện, liên tỉnh dọc theo sông Hậu và sông Tiền.

Bằng quy hoạch và đầu tư hiệu quả, thương hiệu “Mekong Delta” rồi sẽ được nhận biết sâu sắc với hình ảnh một Đồng bằng, mặc dù chịu tác động lớn của thiên nhiên, nhưng biết cách chủ động thích ứng, vượt qua thách thức và phát triển một cách thông minh, hài hòa, thuận thiên. 

Với việc ban hành quy hoạch tổng thể một cách rõ ràng, định hướng cụ thể cùng với ưu tiên đầu tư về kết cấu hạ tầng, hậu cần, dịch vụ, các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư tư nhân sẽ cảm thấy yên tâm hơn, sẽ thấy nhiều cơ hội hơn trong rất nhiều các lĩnh vực khác nhau.

08:18 ngày 21/06/2022

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng trình bày về các điểm mới nổi bật và ý nghĩa của Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm quốc phòng an ninh vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và định hướng triển khai thực hiện:

TRỰC TIẾP: Hội nghị công bố quy hoạch và xúc tiến đầu tư Đồng bằng sông Cửu Long - Ảnh 1.
Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng: Quy hoạch Đồng bằng sông Cửu Long là nhằm cụ thể hóa và triển khai tư duy mới, tầm nhìn mới tại Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đất nước giai đoạn 2021-2030 – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Đồng bằng sông Cửu Long có vị trí, vai trò chiến lược đặc biệt quan trọng cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của cả nước. Kinh tế-xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã đạt kết quả khá toàn diện, trở thành vùng trọng điểm nông nghiệp, là trụ đỡ bảo đảm an ninh lương thực, có nhiều sản phẩm xuất khẩu chủ lực, nhất là lúa, tôm, cá tra, trái cây. Tuy nhiên, sự phát triển của vùng còn khó khăn, chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế, do nhiều nguyên nhân nội vùng và ngoại vùng.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều quyết sách và giải pháp để phát huy tiềm năng, lợi thế, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội của Vùng như: Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 13–NQ/TW về phương hướng phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Chính phủ ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu và Nghị quyết số 78/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 13–NQ/TW. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 825/QĐ-TTg về việc thành lập và ban hành quy chế hoạt động của Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2020-2025.

Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao tại Nghị quyết số 120/NQ-CP, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì phối hợp với các bộ, ngành và các địa phương trong vùng nghiên cứu, xây dựng quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 287/QĐ-TTg.

Trong quá trình lập quy hoạch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, cơ quan liên quan, 13 địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long, các đối tác phát triển; tổ chức nhiều hoạt động lấy ý kiến rộng rãi, nhất là ý kiến các chuyên gia trong nước và ngoài nước am hiểu Vùng, để xây dựng bản Quy hoạch có cơ sở khoa học và thực tiễn.

Để phác họa bức tranh toàn cảnh về thời cơ mới và vận hội mới của vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh thực hiện những quyết sách nêu trên của Đảng và Nhà nước, tôi xin trình bày các nội dung về Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long; Kế hoạch thực hiện quy hoạch; Nguồn lực thực hiện quy hoạch; Các cơ hội đầu tư mới và việc điều phối phát triển Vùng trong thời kỳ tới.

Thứ nhất, về Quy hoạch Đồng bằng sông Cửu Long

Quy hoạch Đồng bằng sông Cửu Long là nhằm cụ thể hóa và triển khai tư duy mới, tầm nhìn mới tại Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đất nước giai đoạn 2021-2030 và các định hướng, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước; từ đó mở ra các cơ hội phát triển mới và định hình các giá trị mới cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Theo đó, Quy hoạch xác định các đột phá mang tính chiến lược như sau:

Thứ nhất, phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long theo hướng bền vững, tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu, dựa trên ba trụ cột: kinh tế – xã hội – môi trường; chú trọng bảo vệ, tôn tạo và phát triển hệ sinh thái tự nhiên hướng tới một mô hình kinh tế xanh, lấy “con người” làm trung tâm.

Thứ hai, biến thách thức thành cơ hội, “chủ động sống chung với lũ, ngập, nước lợ, nước mặn”; chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng gia tăng hiệu quả và giá trị, trong đó chú trọng huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực về con người và khoa học và công nghệ. Đẩy mạnh cơ cấu lại kinh tế vùng theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; công nghiệp năng lượng là đột phá, dịch vụ là bệ đỡ.

Thứ ba, thay đổi tư duy về an ninh lương thực từ việc phát triển nông nghiệp dựa vào cây lúa sang thủy sản – trái cây – lúa gạo phù hợp với thị trường, trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại phân vùng sản xuất dựa trên tài nguyên nước và thổ nhưỡng.

Thứ tư, chuyển đổi mô hình phát triển từ phân tán, nhỏ lẻ sang tập trung cả về nông nghiệp, công nghiệp và đô thị; phấn đấu đến năm 2030 vùng đồng bằng sông Cửu Long trở thành trung tâm kinh tế nông nghiệp bền vững, năng động và hiệu quả cao của quốc gia, khu vực và thế giới trên cơ sở tập trung nguồn lực đầu tư các hành lang phát triển, khu vực phát triển động lực, trung tâm đầu mối nông nghiệp được xác định trong quy hoạch.

Thứ năm, tập trung phát triển kết cấu hạ tầng với vai trò bệ đỡ cho phát triển kinh tế- xã hội và thúc đẩy liên kết vùng, đặc biệt chú trọng đến phát triển hạ tầng giao thông, nhất là các tuyến kết nối với thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ thông qua 2 trục cao tốc đường bộ, tuyến đường thuỷ nội địa và tuyến đường sắt nối thành phố Hồ Chí Minh với Cần Thơ trong tương lai. Phát triển tuyến đường bộ ven biển từ Tiền Giang đến Kiên Giang, gắn với kiểm soát xâm nhập mặn, sắp xếp lại dân cư, bảo đảm quốc phòng an ninh, hình thành hành lang kinh tế mở, hướng ra biển. Đến năm 2030, đầu tư xây dựng mới và nâng cấp khoảng 830 km đường bộ cao tốc; khoảng 4.000 km đường quốc lộ; 04 cảng hàng không; 13 cảng biển, 11 cụm cảng hành khách và 13 cụm cảng hàng hóa đường thủy nội địa.

Thứ sáu, tập trung phát triển hành lang đô thị công nghiệptừ Cần Thơ đến Long An kết nối với thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam bộ và hệ thống 8 trung tâm đầu mối về nông nghiệp; phát triển hành lang kinh tế, đô thị dọc sông Tiền – sông Hậu từ An Giang đến Sóc Trăng gắn với phát triển cảng biển Trần Đề nhằm kết nối, giao thương quốc tế về đường bộ gắn với đường thủy nội địa và hàng hải.

Thứ bảy, thay đổi tư duy về khai thác, sử dụng tài nguyên nước: coi nước mặn, nước lợ là một nguồn tài nguyên bên cạnh nước ngọt; chuyển từ đáp ứng nhu cầu sang chủ động quản lý nhu cầu về nước; khai thác, sử dụng tài nguyên nước phù hợp với phân vùng chức năng của nguồn nước.

Thứ tám, chú trọng bảo tồn các cảnh quan, sinh thái, văn hóa lịch sử, văn hóa dân tộc, văn hóa sông nước đặc thù của vùng. Đặc biệt là thành lập và vận hành hàng lang đa dạng sinh học ở khu vực ven biển từ Vườn quốc gia mũi Cà Mau đến khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ; phát triển các không gian văn hóa đặc thù của vùng như văn hóa sông nước, văn hóa các cộng đồng dân tộc thiểu số với phát triển du lịch.

Thứ chín, tăng cường liên kết phát triển giữa các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long với với thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ; mở rộng giao thương với các nước trong khu vực ASEAN, đặc biệt là các nước thuộc Tiểu vùng sông Mê Công nhằm khơi thông, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội.

Toàn bộ Hồ sơ Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long được công bố tại Hội nghị ngày hôm nay, được chuyển giao cho địa phương và thông tin công khai tại Cổng thông tin quy hoạch quốc gia.

TRỰC TIẾP: Hội nghị công bố quy hoạch và xúc tiến đầu tư Đồng bằng sông Cửu Long - Ảnh 2.
Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thứ hai, về Kế hoạch thực hiện quy hoạch

Ngay sau khi quy hoạch được phê duyệt, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng Kế hoạch thực hiện quy hoạch, bao gồm 04 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đó là:

(1) Phát triển kinh tế nông nghiệp giá trị cao, hiệu quả cao, chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, trong đó tập trung phát triển các trung tâm đầu mối, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, công nghệ cao, đảm bảo an toàn thực phẩm.

(2) Phát triển khu vực đô thị – công nghiệp động lực, trong đó tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, liên tỉnh, hệ thống logistics, hạ tầng kỹ thuật của khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp; các công trình nguồn và lưới điện, phát huy có hiệu quả tiềm năng về dầu khí và năng lượng tái tạo.

(3) Xây dựng môi trường sống tốt, điểm đến hấp dẫn: Xây dựng và triển khai Chương trình phát triển các điểm nguồn nước ngọt dự trữ chiến lược trên toàn vùng;  nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ giáo dục – đào tạo, y tế, du lịch có khả năng cạnh tranh ở cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế tại thành phố Cần Thơ; Chương trình phát triển thương hiệu du lịch đồng bằng sông Cửu Long tầm cỡ quốc tế gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa – lịch sử; bảo tồn các hệ sinh thái đất ngập nước quan trọng, đa dạng sinh học biển, hải đảo.

(4) Quản lý, điều phối thực hiện quy hoạch vùng: Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Cửu Long giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo điều phối, đôn đốc, các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện thống nhất các nhiệm vụ, chương trình, dự án, đề án theo Quy hoạch.

Thứ ba, về nguồn lực thực hiện Quy hoạch

Để tiếp tục ưu tiên đầu tư cho vùng ĐBSCL, trên cơ sở kiến nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Thường vụ quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 973 ngày 08/7/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 26 ngày 14/09/2020 về các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2021-2025, trong đó quy định các tiêu chí tính điểm của Vùng ưu tiên cao hơn các Vùng khác trong cả nước.

Trong giai đoạn 2021-2025, tổng số vốn ngân sách nhà nước dự kiến hỗ trợ cho các dự án trên địa bàn do địa phương quản lý dự kiến đạt khoảng 320 nghìn tỷ đồng, tăng 23,3% so với giai đoạn 2016-2020, trong đó:

Nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương là khoảng 178 nghìn tỷ đồng; Nguồn vốn ngân sách trung ương là khoảng 82 nghìn tỷ đồng, tăng 41,2% so với giai đoạn 2016-2020; Nguồn vốn nước ngoài (ODA) là 60 nghìn tỷ đồng (trong đó bao gồm 46 nghìn tỷ đồng khoản hỗ trợ DPO), chiếm 30% tổng ODA cả nước trong giai đoạn 2021-2025, trong khi con số tương ứng giai đoạn 2016-2020 là 7,66%.

Ngoài ra, vốn ngân sách nhà nước đầu tư qua một số Bộ như Giao thông vận tải, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế… để triển khai các công trình dự án trong Vùng đạt khoảng 140 nghìn tỷ đồng. Tổng số vốn ngân sách nhà nước đầu tư dự kiến giai đoạn 2021-2025 của Vùng khoảng 460 nghìn tỷ đồng.

Với số vốn được bố trí như trên, sẽ hoàn thành một số công trình trọng điểm của vùng, như các tuyến đường bộ cao tốc (Trung Lương – Mỹ Thuận – Cần Thơ, Cần Thơ – Cà Mau, Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng), các tuyến đường quốc lộ; toàn bộ tuyến đường ven biển; một số trục động lực quan trọng kết nối với TP. Hồ Chí Minh, vùng Đông Nam Bộ; cảng hàng không; các công trình thủy lợi cấp nước, trữ nước, kiểm soát mặn v.v..

Trong đó, thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giao thông vận tải và 13 tỉnh, thành phố trong vùng đồng bằng sông Cửu Long làm việc với nhóm 6 ngân hàng phát triển quan tâm (bao gồm: ADB, KEXIM, AFD, KfW, JICA, WB) thống nhất tài trợ khoảng 2,2 tỷ đô la để triển khai 20 dự án liên kết vùng trong giai đoạn 2021 – 2025.

Để thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc tăng cường đầu tư, tạo bước đột phá về hạ tầng trong vùng cũng như thể hiện sự cam kết của các nhà tài trợ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo Thủ tướng Chính phủ tổ chức Lễ công bố cam kết tài trợ thực hiện các dự án phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2025 giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư với các tổ chức quốc tế tại Hội nghị hôm nay.

Thứ tư, về cơ hội đầu tư tại Vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Dù đã nhận được nguồn vốn đầu tư phát triển lớn, việc thực hiện quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long chỉ có thể đạt kết quả cao nhất nếu huy động thành công các dự án đầu tư từ mọi thành phần kinh tế và khơi dậy, nuôi dưỡng tinh thần kinh doanh mạnh mẽ của doanh nghiệp và người dân.

Với tầm nhìn, định hướng phát triển vùng được xác định rõ ràng, nhất quán, các kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đang được tập trung đầu tư lớn và đồng bộ, các doanh nghiệp và nhà đầu tư có rất nhiều cơ hội mở rộng sản xuất, gia tăng đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh trong nước và quốc tế tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Trong đó, các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư bao gồm: đầu tư PPP phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội; nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp kết hợp du lịch, nông nghiệp giá trị cao; công nghiệp chế biến, công nghiệp chế tạo, các ngành hỗ trợ cho sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản; công nghiệp năng lượng, đặc biệt là năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; công nghiệp công nghệ cao; chuyển đổi số; dịch vụ vận tải logistics; dịch vụ y tế, giáo dục; du lịch và bất động sản.

Thứ năm, về điều phối phát triển vùng ĐBSCL giai đoạn 2021-2025

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan nghiên cứu, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 12/6/2020 về việc thành lập và ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó xác định rõ 04 hoạt động liên kết và 08 phương thức điều phối.

Để triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị, Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long, công tác điều phối phát triển vùng trong giai đoạn tới tập trung triển khai một số nội dung sau:

– Điều phối, liên kết trong việc triển khai lập các quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị, quy hoạch ngành, lĩnh vực có liên quan đảm bảo thống nhất với Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long đã được phê duyệt.

– Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển vùng và phương án huy động nguồn lực; huy động và phân bổ vốn đầu tư đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long.

– Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, thiết lập hệ thống thông tin vùng; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Công tác điều phối phát triển vùng có ý nghĩa quan trọng trong việc triển khai thực hiện Quy hoạch vùng, thúc đẩy quá trình liên kết, hợp tác giữa các địa phương trong các chương trình dự án liên kết vùng, liên tỉnh. Qua đó, tạo nên sức mạnh tổng hợp, khai thác phát huy có hiệu quả các nguồn lực hướng đến các tầm nhìn, giá trị và lợi ích chung của toàn vùng.

Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị, Chương trình hành động của Chính phủ và Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác định rõ Tư duy mới – Tầm nhìn mới – Cơ hội mới – Giá trị mới cho vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Triển khai hiệu quả chủ trương của Đảng và Nhà nước, với quyết tâm cao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, ngành, các địa phương trong Vùng và địa phương liên kết với Vùng, và sự ủng hộ, đồng lòng, đồng hành của các nhà tài trợ, doanh nghiệp, người dân; chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng rằng việc thực hiện Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ chắc chắn thành công.

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ đón nhận làn sóng đầu tư mới, đạt được phát triển nhanh, bền vững, bứt phá trong thời kỳ tới, người dân được hạnh phúc với một cuộc sống tốt đẹp hơn.

08:07 ngày 21/06/2022

TRỰC TIẾP: Hội nghị công bố quy hoạch và xúc tiến đầu tư Đồng bằng sông Cửu Long - Ảnh 1.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn – Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn công bố Nghị quyết số 78/NQ-CP ngày 18/6/2022 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm quốc phòng an ninh vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quyết định số 278/QĐ-TTg ngày 28/2/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

07:35 ngày 21/06/2022

TRỰC TIẾP: Hội nghị công bố quy hoạch và xúc tiến đầu tư Đồng bằng sông Cửu Long - Ảnh 1.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Phó Thủ tướng Lê Văn Thành và các đồng chí lãnh đạo cắt băng khai mạc Triển lãm ảnh nghệ thuật “Đồng bằng sông Cửu Long – Khát vọng phát triển”.Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Phó Thủ tướng Lê Văn Thành, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng và Bí thư Thành ủy Cần Thơ Lê Quang Mạnh đã cắt băng khai mạc Triển lãm ảnh nghệ thuật “Đồng bằng sông Cửu Long – Khát vọng phát triển”. 

Theo Báo Chính phủ

Nguồn đăng: https://baochinhphu.vn/truc-tiep-hoi-nghi-cong-bo-quy-hoach-dong-bang-song-cuu-long-102220621073852361.htm

CÁC BÀI VIẾT KHÁC

Call Now Button